TGTQ - Từ kết quả mô hình dưa chuột Tài Lộc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học vụ Thu Đông năm 2026, xã Kiên Đài có thêm cơ sở thực tiễn để lựa chọn giống cây trồng năng suất cao, phát triển sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, để nhân rộng hiệu quả, cần giải quyết đồng bộ bài toán kỹ thuật, giá thu mua, tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ.
Sáng 6/10/2026, Trung tâm Khuyến nông phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Kiên Đài và Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Kinh doanh hàng nông sản An Hòa tổ chức Hội nghị đầu bờ, đánh giá kết quả mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ dưa chuột giống mới Tài Lộc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
Dự Hội nghị có lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông; Thường trực Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Kiên Đài; đại diện xã Yên Lập; các hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ dân trồng dưa chuột tại một số địa phương trong, ngoài tỉnh.
Trước khi tổng kết tại Nhà văn hóa xã, các đại biểu đã kiểm tra thực tế mô hình tại thôn Khun Vìn; đánh giá khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh, chất lượng quả và tình hình thu hoạch. Những số liệu thu thập từ đồng ruộng được đưa ra phân tích, so sánh với giống GM 222 đang được sử dụng làm đối chứng.
.jpg)
Đại biểu thăm mô hình tại thôn Khun Vìn, Kiên Đài
Hiệu quả rõ nét trong cùng điều kiện sản xuất
Mô hình được triển khai trên diện tích 1,2 ha, với 10 hộ dân tham gia. Các hộ được cung ứng trước hạt giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sinh học; được hướng dẫn quy trình trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ sản phẩm.
Qua theo dõi, giống Tài Lộc có tỷ lệ nảy mầm đạt 94–95%; bắt đầu cho thu hoạch sau khoảng 33–34 ngày, tổng thời gian sinh trưởng từ 85–90 ngày. Cây sinh trưởng khá, chống chịu một số loại sâu bệnh, quả tương đối đồng đều, thịt giòn, chất lượng thương phẩm tốt và có khả năng thu hoạch nhiều lứa.
Kết quả bước đầu cho thấy dưa chuột Tài Lộc đạt năng suất 59,8 tấn/ha, trong khi giống đối chứng GM 222 đạt 52,5 tấn/ha. Như vậy, giống Tài Lộc cao hơn 7,3 tấn/ha, tương đương tăng 13,9%.
Tính trên 1.000 m², mô hình đạt doanh thu khoảng 35,88 triệu đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi 12,25 triệu đồng. Từ mức chênh lệch được công bố, giống đối chứng đạt lợi nhuận khoảng 7,84 triệu đồng/1.000 m². Như vậy, Tài Lộc cho lợi nhuận cao hơn 4,41 triệu đồng, tương đương tăng 56,3%.
Đáng chú ý, chi phí sản xuất của hai giống gần như tương đương: khoảng 23,63 triệu đồng/1.000 m² đối với Tài Lộc và 23,66 triệu đồng đối với GM 222. Điều đó cho thấy lợi nhuận tăng thêm chủ yếu được tạo ra từ năng suất cao hơn, không phải từ việc cắt giảm vật tư hoặc quy trình chăm sóc. Đây là căn cứ quan trọng nhất để đánh giá ưu thế thực chất của giống mới.

Đại biểu thăm mô hình tại thôn Khun Vìn, Kiên Đài
Năng suất thuộc nhóm khá cao
Đặt trong tương quan với các mô hình sản xuất dưa chuột tại Tuyên Quang và một số địa phương, năng suất 59,8 tấn/ha tại Kiên Đài thuộc nhóm khá cao.
Năm 2022, năng suất dưa chuột bình quân của tỉnh Tuyên Quang được ghi nhận đạt trên 47 tấn/ha; riêng Kiên Đài đạt khoảng 45 tấn/ha. So với các mốc này, kết quả của giống Tài Lộc cao hơn khoảng 27% so với mức 47 tấn/ha và gần 33% so với mức 45 tấn/ha từng đạt tại Kiên Đài. Dù thuộc các vụ sản xuất khác nhau, mức chênh lệch vẫn cho thấy tiến bộ đáng kể về giống, kỹ thuật và tổ chức sản xuất.
Tại xã Tân Mỹ, vụ Xuân năm 2026, năng suất dưa chuột bình quân đạt 60,7 tấn/ha, doanh thu khoảng 366 triệu đồng/ha với giá thu mua 6.000 đồng/kg. Kết quả này gần tương đương với mô hình Kiên Đài, đạt 59,8 tấn/ha và doanh thu quy đổi 358,8 triệu đồng/ha.
Đối với cùng giống Tài Lộc, mô hình tại xã Hương Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đạt khoảng 60 tấn/ha; tại xã Mai Hoa, năng suất phổ biến từ 50–60 tấn/ha, lợi nhuận khoảng 140 triệu đồng/ha. Như vậy, kết quả tại Kiên Đài phù hợp với khoảng năng suất đã được ghi nhận ở những vùng sản xuất khác.
Tuy nhiên, lợi nhuận quy đổi của mô hình Kiên Đài đạt khoảng 122,5 triệu đồng/ha, thấp hơn mức khoảng 140 triệu đồng/ha tại Mai Hoa và mức trên 219 triệu đồng/ha được ghi nhận ở một hộ trồng dưa chuột liên kết tại Tân Mỹ. Sự khác biệt có thể xuất phát từ giá thu mua, tỷ lệ sản phẩm đạt loại I, chi phí vật tư, công lao động, vận chuyển và cách hạch toán giữa các mô hình.
Điều này cho thấy năng suất cao là điều kiện cần nhưng chưa đủ để quyết định thu nhập cuối cùng của người trồng.

Đại biểu thực địa mô hình trên diện tích 1,2 ha với 10 hộ tham gia tại thôn Khun Vìn, xã Kiên Đài
Giá thu mua quyết định hiệu quả
Từ năng suất và doanh thu của mô hình có thể xác định giá bán tính toán bình quân khoảng 6.000 đồng/kg. Với tổng chi phí khoảng 23,63 triệu đồng/1.000 m², nếu giá thu mua giảm xuống 5.000 đồng/kg, lợi nhuận chỉ còn khoảng 6,27 triệu đồng. Nếu giá giảm xuống 4.000 đồng/kg, mô hình gần như hòa vốn.
Ngưỡng giá hòa vốn của giống Tài Lộc vào khoảng 3.950 đồng/kg, thấp hơn mức khoảng 4.500 đồng/kg của giống đối chứng. Năng suất cao hơn giúp Tài Lộc có khả năng chống chịu biến động giá tốt hơn, nhưng không thể loại bỏ rủi ro thị trường.
Trong khi đó, hợp đồng hiện nay xác định giá thu mua theo thị trường tại từng thời điểm. Cách làm này bảo đảm sự linh hoạt nhưng chưa tạo được “vùng an toàn” đầy đủ cho người sản xuất. Nếu diện tích được mở rộng nhanh và thu hoạch đồng loạt, sản lượng tăng mạnh có thể gây áp lực lên khâu thu mua, phân loại và tiêu thụ, từ đó làm giảm giá bán và thu hẹp lợi nhuận.

Đồng chí Phan Nho Hữu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông; đồng chí Bùi Mạnh Hùng, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã; Ông Đỗ Văn Dũng, Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp Kinh doanh hàng nông sản An Hòa (tỉnh Phú Thọ) tại hội nghị ngày 06/10
Nhân rộng có điều kiện
Từ kết quả bước đầu, mô hình cần được mở rộng theo lộ trình có kiểm soát, gắn diện tích sản xuất với năng lực thu mua và nhu cầu thị trường, tránh phát triển theo phong trào. Giống Tài Lộc nên tiếp tục được theo dõi trong hai đến ba vụ, trên các chân đất và khung thời vụ khác nhau, đồng thời duy trì diện tích đối chứng để đánh giá chính xác năng suất, chất lượng và lợi nhuận.
Trước khi nhân rộng, hợp tác xã và đơn vị bao tiêu cần xác định rõ sản lượng thu mua, tiêu chuẩn phân loại, lịch giao nhận và phương thức xác định giá; nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro, bố trí thời vụ hợp lý để tránh thu hoạch đồng loạt. Quy trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học cần tiếp tục được duy trì, gắn với nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc và hạch toán đầy đủ chi phí. Đồng thời, hướng dẫn người dân luân canh cây trồng, sử dụng phân hữu cơ và xử lý đất để hạn chế sâu bệnh.
Kết quả tại Kiên Đài cho thấy dưa chuột Tài Lộc có ưu thế về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Vì vậy, hướng đi phù hợp là nhân rộng có điều kiện, lấy liên kết tiêu thụ và thu nhập thực tế của người dân làm thước đo, qua đó từng bước phát triển dưa chuột thành cây trồng hàng hóa có giá trị và bền vững.
Nguyên Minh