TGDV - Đồng chí Phạm Văn Đồng - Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo có uy tín của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam - Nhà lý luận chính trị và văn hóa xuất sắc - Nhà ngoại giao tài năng; cuộc đời và sự nghiệp, công lao và cống hiến của đồng chí Phạm Văn Đồng đã để lại cho Đảng và dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Với những đóng góp, cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, đồng chí được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Sao vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác…
Đồng chí Phạm Văn Đồng, sinh ngày 01/3/1906 trong một gia đình trí thức ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Năm 1921, tốt nghiệp Trường Tiểu học Đông Ba và thi đỗ vào học trường Quốc học Huế, trong thời gian theo học tại đây, Phạm Văn Đồng có dịp tiếp xúc với sách báo tiến bộ và sớm hòa mình vào phong trào yêu nước của học sinh.

Đồng chí Phạm Văn Đồng - Người chiến sĩ cộng sản kiên trung của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam. Ảnh tư liệu
Giữa năm 1924, Phạm Văn Đồng rời trường Quốc học Huế ra Hà Nội, thi đỗ vào học bậc tú tài tại trường Bưởi. Những năm 1925 - 1926, Phạm Văn Đồng tham gia phong trào bãi khóa, đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh. Năm 1926, sau khi giác ngộ cách mạng, Phạm Văn Đồng tham dự lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức, giảng dạy và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Phạm Văn Đồng trở thành học trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Đây là một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng, từ một thanh niên yêu nước đã trở thành một chiến sĩ cách mạng chân chính.
Tháng 4/1927, đồng chí về nước, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Nam Kỳ. Những năm 1927 - 1928, khi ở Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng chí vừa dạy học, vừa tuyên truyền, vận động cách mạng trong trí thức, học sinh, sinh viên. Tháng 3/1929, đồng chí được bầu làm Bí thư Kỳ bộ Nam Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Tháng 5/1929, đồng chí tham dự Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Hương Cảng (Hồng Kông) và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Tổng bộ Hội. Tháng 7/1929, đồng chí bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn; bị tòa án thực dân kết án 10 năm tù giam và đày ra Côn Đảo. Giữa năm 1936, trước áp lực các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta và phong trào Mặt trận nhân dân Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng được trả tự do, trở lại Hà Nội. Tuy bị quản thúc, đồng chí vẫn tìm cách bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động cách mạng.
Đồng chí Phạm Văn Đồng sớm sử dụng báo chí làm vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng. Trong lúc bị giam cầm nơi ngục tù Côn Đảo, đồng chí đã tham gia làm báo Ý kiến chung và Người tù đỏ. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 - 1939), khi hoạt động công khai tại Hà Nội, đồng chí đã viết một số bài in trên các báo xuất bản công khai của Đảng như Le Travail, Notre Voix… để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng.
Tháng 5/1940, đồng chí được cử sang Côn Minh (Trung Quốc) làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị cho việc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tại đây, đồng chí Phạm Văn Đồng được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; tham gia hoạt động cách mạng ở Liễu Châu, Tĩnh Tây (Trung Quốc). Cuối năm 1940, đồng chí là một trong những người được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ huấn luyện, giảng dạy lớp học tại Quảng Tây, Trung Quốc với những bài lên lớp về Con đường giải phóng, đào tạo cán bộ thí điểm thành lập Mặt trận Việt Minh.
Đầu năm 1942, trở về Cao Bằng hoạt động, đồng chí tích cực tham gia quá trình vận động, tổ chức Mặt trận Việt Minh; phụ trách báo Việt Nam độc lập và là cây bút chủ yếu của báo; tham gia xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị lực lượng và các điều kiện tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay Nhân dân.
Tháng 8/1945, tại Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào, đồng chí được cử làm Ủy viên Thường trực Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời; được Quốc hội khóa I bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.
Cuối tháng 5/1946, đồng chí được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán chính thức với Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô. Tháng 01/1947, đồng chí là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là Đặc phái viên của Trung ương và Chính phủ chỉ đạo trực tiếp công cuộc kháng chiến, kiến quốc ở Nam Trung Bộ.
.jpg)
Từ phải sang: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Việt Bắc. Ảnh Tư liệu
Được sống và làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí là một trong những người sớm nghiên cứu và viết về Người. Từ tháng 8/1948, đang là Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ, đồng chí viết tác phẩm “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc”. Sau đó hằng năm cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác, đồng chí thường có những bài viết, bài nói hoặc diễn văn về Người; giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đồng chí Phạm Văn Đồng đã công bố một loạt tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những bài viết, tác phẩm của đồng chí là một hệ thống tri thức, kinh nghiệm nghiên cứu một cách toàn diện về con người Hồ Chí Minh; về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đồng chí Phạm Văn Đồng xứng đáng được ghi danh là người tiên phong, một trong những người đặt nền tảng cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học ở Việt Nam.
Năm 1949, đồng chí trở lại Việt Bắc, được cử là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đảm nhận cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao.
Từ Đại hội II đến Đại hội VI của Đảng (1951 - 1986), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1955 - 1987, đồng chí được giao đảm nhiệm trọng trách Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1981), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1987); kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1954 - 1961); là Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (1954); là đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV, V, VI, VII. Từ năm 1986 - 1997, đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí Phạm Văn Đồng từ trần ngày 29/4/2000, hưởng thọ 94 tuổi.
Những trọng trách mà đồng chí được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó trong suốt thời kỳ đấu tranh giành độc lập, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã thể hiện uy tín và tài năng của nhà lãnh đạo kiệt xuất Phạm Văn Đồng…
Nguyễn Yến
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy (tổng hợp)